Chuyên đề Định hướng ra đề nghị luận theo hướng kết hợp đọc hiểu, đề mở
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề Định hướng ra đề nghị luận theo hướng kết hợp đọc hiểu, đề mở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_dinh_huong_ra_de_nghi_luan_theo_huong_ket_hop_doc.docx
Nội dung tài liệu: Chuyên đề Định hướng ra đề nghị luận theo hướng kết hợp đọc hiểu, đề mở
- ĐỊNH HƯỚNG RA ĐỀ NGHỊ LUẬN THEO HƯỚNG KẾT HỢP ĐỌC HIỂU, ĐỀ MỞ 1. Quan điểm về đổi mới đề thi: Có thể khẳng định một trong những khâu đột phá về đổi mới dạy học văn hiện nay chính là đổi mới đề thi. Thực tế ở nước ta, trong nhiều thập kỷ, việc xây dựng đề thi theo dạng an toàn gắn với lối mòn có trong sách vở, trong các tài liệu tham khảo đã vô tình làm thui chột khả năng sáng tạo, biến các em học sinh thành những công cụ ghi nhớ, chép lại một cách máy móc; đánh mất đi những háo hức khám phá, hứng thú khi làm bài, biến môn văn trong nhà trường trở nên đơn điệu, tẻ nhạt, nhàm chán. Thật đáng mừng, trong những năm gần đây, đề thi môn ngữ văn được xây dựng theo hướng kết hợp đọc hiểu, đề mở, đặc biệt dạng đề về nghị luận xã hội trong các kỳ thi đại học, thi THPT quốc gia, thi tuyển sinh vào 10... đã trở thành mảnh đất màu mỡ ươm mầm những tài năng. Đây là dạng đề giúp các em được có cơ hội thể hiện năng lực cảm thụ văn học cũng như quan điểm, suy nghĩ, chính kiến độc lập của bản thân nhìn nhận đánh giá về cuộc sống muôn màu. Qua đó, đánh thức trong tâm hồn các em những rung cảm trong sáng lành mạnh; thắp sáng trong trái tim học trò tình yêu niềm đam mê tha thiết đối với văn học, giúp các em biết sống đẹp, sống đẹp hơn, biết vươn tới “chân thiện, mỹ”. Trao đổi với PV báo Tuổi trẻ oline ngày 19/4/2014, PGS TS Đỗ Ngọc Thống đã khẳng định tâm đắc: “Một trong những lý do phương pháp dạy học không được đổi mới mạnh mẽ là do chưa dám mạnh dạn đổi mới thi cử, đổi mới hướng ra đề thi". Vậy làm thế nào để GV xây dựng đề thi Nghị luận xã hội theo hướng kết hợp đọc hiểu, hướng mở một cách hiệu quả? 2. Yêu cầu xây dựng, lựa chọn ngữ liệu: Trước hết GV phải thật sự trăn trở, tâm huyết để chọn ngữ liệu, văn bản một cách phù hợp đáp ứng được mục tiêu của đề ra. Các ngữ liệu văn bản có thể trong SGK, đặc biệt là các ngữ liệu ngoài chương trình để tạo hứng thú, háo hức cho học sinh; đồng thời gắn văn học với thực tiễn đời sống hiện nay. Ngữ liệu phải đảm bảo cơ bản các yêu cầu sau: - Đảm bảo tính chính xác (nguồn trích dẫn đầy đủ); tính khoa học, lô gich. - Độ dài văn bản vừa phải, phù hợp; ngôn ngữ mạch lạc, trong sáng; đặc biệt có chất văn chương. - Phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật (không giống như đề thi chọn HSG Thành phố lớp 12, bảng A của Sở GD&ĐT TP Hải Phòng năm học 2013 – 2014) 1
- - Ngữ liệu bàn về những vấn đề tư tưởng, đạo lý tình cảm hoặc các hiện tượng xã hội đang được quan tâm hiện nay. - Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh; đảm bảo tính giáo dục cao. 2.3. Quy trình xây dựng đề thi đọc hiểu, cơ bản vẫn nằm trong các bước sau: - Xác định mục đích kiểm tra, đánh giá (như đã nêu) - Xác định phạm vi nội dung cần đánh giá (căn cứ để lựa chọn ngữ liệu phù hợp); - Lựa chọn hình thức đánh giá (căn cứ để lựa chọn ngữ liệu phù hợp); - Lập ma trận cho đề kiểm tra (căn cứ để lựa chọn ngữ liệu phù hợp, lựa chọn hình thức câu hỏi); - Biên soạn câu hỏi theo ma trận (đã có chuyên đề riêng): các câu hỏi trong phần đọc hiểu: thường có từ 2 đến 4 câu xoay quanh các nội dung: phương thức biểu đạt, xác định nội dung đoạn trích, hiệu quả diễn đạt của các tín hiệu nghệ thuật, trả lời câu hỏi tại sao về một vấn đề đặt ra trong văn bản; thể hiện chính kiến của bản thân đồng tình hay không đồng tình về một vấn đề nào đó; câu hỏi tập làm văn thường bày tỏ suy nghĩ về vấn đề được đặt ra trong văn bản hoặc vấn đề xã hội đang được quan tâm. - Xây dựng HD chấm và thang điểm; - Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra. 3.Một số dạng đề Nghị luận xã hội theo hướng kết hợp đọc hiểu, hướng mở thường gặp Tùy theo tính chất mức độ, yêu cầu, phạm vi và đối tượng học sinh mà các đề thi được ra dưới nhiều dạng khác nhau. - Xét về hình thức, cấu trúc đề thi, cùng với dạng đề quen thuộc ra độc lập phần Đọc hiểu và phần Làm văn (dù trên đề thi cấp THCS không ghi phần I và phần II như đề THPT thì cấu trúc cơ bản vẫn thể hiện rõ), cần lưu ý thêm dạng đề khác, đó là đề tích hợp. Tham khảo nhiều đề thi, có thể nhận thấy câu hỏi NLXH được tích hợp với phần ngữ liệu đọc hiểu trước đó. Với THPT thì đã quá quen thuộc, với THCS thì mới chỉ một số nơi thực hiện. - Xét về phạm vi nghị luận chúng ta có các dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý và nghị luận về một sự việc hiện tượng trong đời sông. (Các dạng đề này được phân loại khá rõ trong chương trình ngữ văn lớp 9 THCS). Tuy nhiên trong thực tế luôn có sự giao thoa lớn giữa các phạm vi trên ở cả vấn đề trên đề thi và cách thức làm bài của học sinh. Vì hiển nhiên để đánh giá một sự việc hiện tượng trong đời sống luôn phải cần tư duy lý trí và tư tưởng đạo lý đúng đắn để bàn luận. Cũng như vậy bàn luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý cũng cần có những minh chứng, nhưng biểu hiện cụ thể tiêu biểu của đời sống để đánh giá... 2
- - Xét về nội dung có thể hình dung hai dạng đề “nổi” và đề “chìm”. Đề “nổi” là những đề mà vấn đề cần nghị luận được biểu hiện trực tiếp trên câu chữ của đề, thậm chí đã có những định hướng nhất định về phương pháp lập luận và các ý cần bàn luận. Ngược lại đề “chìm” là những đề có tính phổ quát, độ khó, tính mở cao hơn buộc học sinh phải suy luận phát hiện vấn đề và lập luận đa dạng. Việc phân loại các dạng đề theo cấu trúc nội dung và hình thức trên là để dễ hình dung và chủ động trong việc ra đề vừa đa dạng vừa phù hợp với mức độ tính chất kiểm tra đánh giá từng đối tượng học sinh. Ví dụ: đối với học sinh đại trà nên ra các đề “nổi”, độ mở tương đối, phạm vi vấn đề gần gũi nhẹ nhàng. Đối với học sinh khá giỏi nên tăng tính mở cao của những dạng đề “chìm” để phát huy khả năng suy luận, đánh giá, phản biện nâng cao của các em, phát hiện tố chất HSG để bồi dưỡng chuyên sâu. Để dễ trao đổi và áp dụng, chúng ta thử hình dung ở một số ví dụ sau: Ví dụ 1: Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2018-2019, tỉnh Hà Tĩnh. Phần đọc hiểu và phần tập làm văn tách rời độc lập với nhau, vấn đề nghị luận chính thuộc phạm vi tư tưởng đạo lý, vấn đề có tính mở cao kiểu “đề chìm” Câu 1: (2.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: Bà con của một người bà con dẫn cô lên giúp việc nhà họ vào một bữa trời mưa... Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê...”. Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẫn thờ, trời ơi, “phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước lắm. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật”. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào,“phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo”. (...) Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường. Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc... (Biển của mỗi người, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Kim Đồng, 2016, tr. 5,6,7) a) Những phương thức biểu đạt nào được sử dụng trong đoạn trích trên? b) Tại sao chủ nhà lại “hoang mang” và cảm thấy “thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ” trước cô giúp việc? Câu 2. (3.0 điểm) Thời gian – Quà tặng kỳ diệu của cuộc sống! Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 300-400 chữ) bàn về ý nghĩa của thời gian đối với lứa tuổi học trò hiện nay. 3
- Ví dụ 2: Đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019-2020, tỉnh Hà Tĩnh. Dạng đề có cấu trúc “độc lập”, thuộc phạm vi “tư tưởng đạo lý”, có nội dung tương hiển ngôn của kiểu “đề nổi”: Câu 1. (2.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn hóa, biết ứng xử chính là người biết tự hòa mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay! Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp. (Giao tiếp đời thường, Băng Sơn, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB GDVN, 2014, tr.9) a. Xác định phương thức biểu đạt chính. b. Nêu nội dung của đoạn trích. c. Em có đồng tình với ý kiến “Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.” không? Vì sao? Câu 2. (3.0 điểm) Suy nghĩ của em về bài học ứng xử trong cuộc sống được gợi lên từ câu tục ngữ: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Ví dụ 3: - Phần đọc hiểu và phần Tập làm văn gắn kết với nhau: từ phần đọc hiểu văn bản để viết bài văn, đoạn văn nghị luận bàn về vấn đề mà văn bản đặt ra. Thuộc phạm vi tư tưởng đạo lý, có độ mở cao của kiểu “đề chìm” Ví dụ 3: Đề thi thử TS vào 10 của phòng Cẩm Xuyên năm học 2019-2020 Có cấu trúc tích hợp đọc hiểu và nghị luận, thuộc phạm vi sự việc hiện tượng và có độ mở cao. Câu1 : (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi “Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của những người sẵn sàng quay lưng lại với những nỗi đau khổ, bất hạnh của đồng loại, sẵn sàng làm ngơ trước cái xấu, cái ác, nên làm cho cái xấu, cái ác có mảnh đất màu mỡ để sinh sôi nảy nở 4
- như “cỏ mọc hoang” và đang đầu độc, chế ngự cuộc sống tốt đẹp của con người trong xã hội mới của chúng ta hôm nay, ngấm ngầm tàn phá các giá trị đạo đức, nhân văn của cá nhân và xã hội. “Hành vi của con người trong xã hội bây giờ chỉ nhằm vào lợi ích của chính mình, họ ít quan tâm đến người khác, đến cuộc đời người khác. Nó làm nghèo đi, là một sự thô thiển, làm tầm thường hóa trong cách ứng xử giữa con người với con người”, PGS.TS Tâm lý học Nguyễn Hồi Loan cho biết. Căn bệnh vô cảm đã và đang làm mất đi nét đẹp truyền thống quý giá của dân tộc ta, đó là tình thương giữa con người với con người “thương người như thể thương thân”. Mà tình thương theo như nhà văn Nam Cao, nó là tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định tư cách con người. “Không có tình thương, con người chỉ là một con vật bị sai khiến bởi lòng ích kỷ” (“Đời thừa” - Nam Cao). Bệnh vô cảm đang làm “nhiễm mặn”, vẩn đục và xói mòn dần truyền thống đạo lý đẹp nhất của con người Việt Nam: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”. Và khi căn bệnh này ngự trị, thì con người sống với con người trong mối quan hệ hết sức lỏng lẻo. Ở đó thiếu hơi ấm của tình thương, của niềm cảm thông, của sự cưu mang, đùm bọc, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau. Một cuộc sống như thế là cuộc sống thật buồn đau và thất vọng biết bao! Xin hãy mở lòng mình với những người đồng bào, đồng chí của mình. Đừng để phần “con” lấn át phần “người” chỉ vì chứng vô cảm!” (Báo động tình trạng vô cảm trong xã hội hiện nay: Chuyện không của riêng ai, Đăng Đức,Năng lượng Mới số 269 https: Petrotimes. vnngày 29/10/2013) a, Chỉ ra tác hại của thói vô cảm được nêu trong đoạn trích. b, Theo tác giả, để phá vỡ bệnh vô cảm dẫn đến “cuộc sống thật buồn đau và thất vọng”thì bản thân mỗi chúng ta cần phải làm gì? c, Theo em, việc tác giả nhiều lần sử dụng từ ngữ “căn bệnh vô cảm” góp phần mang lại hiệu quả nghệ thuật gì ? d, Em có đồng tình với ý kiến: “Mà tình thương theo như nhà văn Nam Cao, nó là tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định tư cách con người. “Không có tình thương, con người chỉ là một con vật bị sai khiến bởi lòng ích kỷ” (“Đời thừa” - Nam Cao) ? Vì sao? Câu 2: (7,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 300 đến 400 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về thói vô cảm của giới trẻ trong xã hội hiện nay. Ví dụ 4: Đề thi thử TS vào 10 của phòng Cẩm Xuyên năm học 2018-2019 5
- Đề có tính tích hợp đọc hiểu và nghị luận, phạm vi vấn đề có tính giao thoa cả nghị luận về sự việc hiện tượng và tư tưởng đạo lý, có độ mở tương đối: Câu 1: (2.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: Có bạn trút bỏ chiếc áo sơ mi trắng để mặc vào một chiếu áo phông lòe loẹt, trước ngực loằng ngoằng hàng dãy chữ nước ngoài và sau lưng là hình ảnh của một bộ phim đang “ăn khách”, một hình ảnh vừa thiếu đứng đắn lại hoàn toàn không phù hợp với lứa tuổi thiếu niên. Có bạn đòi mua bằng được chiếc quần bò đắt tiền để diện đến trường, nhưng đó lại là chiếc quần xé gấu và thủng gối... Hôm qua, ở cổng trường, chút nữa là tôi không nhận ra một bạn của lớp mình. Bên dưới mái tóc nhuộm một đường đỏ hoe, và bên trên đôi giày cao to, quá khổ là chiếc áo đen ngắn ngủn bó chặt lấy thân mình (mặc dù bạn vốn là người gầy nhỏ) và chiếc quần trắng ống rộng lùng thùng. Sự ăn mặc của các bạn sao lại thay đổi nhiều đến thế !” (Ngữ văn 8, tập hai, NXB GDVN, 2015, tr. 125,126) a) Những phương thức biểu đạt nào được sử dụng trong đoạn trích trên? b) Tại sao người viết lại khẳng định: trút bỏ chiếc áo sơ mi trắng để mặc vào một chiếu áo phông lòe loẹt, trước ngực loằng ngoằng hàng dãy chữ nước ngoài và sau lưng là hình ảnh của một bộ phim đang “ăn khách”, là một hình ảnh vừa thiếu đứng đắn lại hoàn toàn không phù hợp với lứa tuổi thiếu niên. Câu 2:(3.0 điểm) Từ đoạn trích trên, hãy viết bài văn ngắn (khoảng 300-400 chữ) bàn về “Trang phục -Nét đẹp văn hóa” đối với lứa tuổi học trò hiện nay. 4. Xây dựng hướng dẫn chấm, biểu điểm 4.1. Đối với các câu đọc hiểu: - Căn cứ vào ngữ liệu để trả lời các câu hỏi: Ví dụ 3 (mục 3.1) Câu 1: (2.0 điểm) Ý Nội dung Điểm Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt: Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận (nêu đúng 1,0 a mỗi phương thức biểu đạt cho 0,25 điểm) 6
- Người viết khẳng định: một hình ảnh vừa thiếu đứng đắn lại hoàn toàn không phù hợp với lứa tuổi thiếu niên. vì: - Lứa tuổi thiếu niên chỉ phù hợp với trang phục giản dị, thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ, 0,5 trong sáng... b - Trang phục áo phông lòe loẹt, trước ngực loằng ngoằng hàng dãy chữ nước ngoài và sau 0,5 lưng là hình ảnh của một bộ phim đang “ăn khách” thể hiện người mặc nó thiếu tính thẩm mỹ, thiếu đứng đắn, chỉ biết đua đòi ăn chơi, chạy theo “mốt” đầy lố bịch, đánh mất đi vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của người Việt Nam 4.2. Đối với câu tập làm văn: 4.2.1 Định hướng cách viết một bài văn Nghị luận xã hội theo hướng mở Gợi ý, định hướng cách viết như sau: - Phải đảm bảo 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài (+) Mở bài: GV hướng dẫn học sinh có nhiều cách mở bài để dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận. Nếu là câu danh ngôn, lời nhận định thì phải trích nguyên văn vào. Có một số cách mở bài tham khảo sau: * Dẫn dắt từ chủ đề mà đề ra đề cập đến: Ví dụ: đề bàn về chủ đề lòng tự trọng: Cùng với lòng dũng cảm, tình yêu thương con người, sự khiêm tốn, hy sinh..., lòng tự trọng là một trong những phẩm chất cao quý không thể thiếu, góp phần quyết định nhân cách, sự thành bại trong cuộc đời của mỗi con người. Mất lòng tự trọng có nghĩa là mất tất cả. Bởi vậy“Có thể bán cơ bắp và trí tuệ của mình cho những ai ra giá cao nhất, nhưng không cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình” (Lin con). * Dẫn dắt từ một câu thơ, lời nhận định, câu danh ngôn... bàn về vấn đề cần Nghị luận: Ví dụ: đề bàn về lòng yêu thương con người: Không phải ngẫu nhiên mà khi bàn về lòng yêu thương con người, nhà thơ Tố Hữu đã thốt lên xúc động: “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người với người sống để yêu nhau.” Còn cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại tâm đắc khẳng định: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Ta có thêm ngày nữa để yêu thương.” 7
- Để rồi, vượt đường viền biên giới, ta lại ngỡ ngàng trước lời nhận định của đại văn hào Mác xim goorki: “Nơi lạnh nhất của thế giới không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương”. Vậy tình yêu thương là gì? Ý nghĩa của nó có gì đặc biệt? *Dẫn dắt từ một vấn đề tương phản hoặc tương đồng đối với vấn đề cần nghị luận: Ví dụ: Bàn về ước mơ đối với tuổi thơ "Kẻ khốn cùng nhất trên thế giới này không phải là người không một đồng xu dính túi, mà là kẻ không có nổi một ước mơ." (Khuyết danh). Đúng vậy! Thật đáng thương, đáng thảm hại biết bao cho những kẻ không có nổi cho mình một ước mơ. Để rồi cuộc đời họ sẽ mãi mãi bị bủa vây trong bóng tối, trong sự tẻ nhạt, vô vị, quẩn quanh, bế tắc, hèn kém. Vậy ước mơ liệu có phải là ngôi sao vạn màu lấp lánh, mời gọi con người, đặc biệt có sức hấp dẫn kỳ diệu đối với tuổi thơ để háo hức đi tìm, khám phá những điều tốt đẹp trong cuộc sống, chắp cánh tương lai? * Dẫn dắt từ một câu hỏi: Ví dụ: Suy nghĩ, quan điểm về hạnh phúc: Hạnh phúc là gì? Câu hỏi ấy muôn đời đã làm thổn thức bao trái tim. Đối với Các mác: “Hạnh phúc là đấu tranh”; còn nhà văn Hemingway lại cho rằng: “Hạnh phúc giữ chặt trong tay chỉ còn là hạt, hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa”. Và rồi có những quan điểm hạnh phúc là những gì bình dị nhất, yêu thương nhất gần gũi nhất xung quanh ta Lưu ý: trên đây chỉ là một số cách mở bài thông thường, còn nhiều cách mở bài khác như: đi từ khái niệm; đi từ thực tiễn cuộc sống với một mẩu chuyện nhỏ để dẫn vào vấn đề cần nghị luận vv Có thể một mở bài kết hợp nhiều cách khác nhau. (+) Thân bài: *Đối với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lý tình cảm: dàn ý có thể xây dựng như sau: 1.Nêu khái quát về tư tưởng, đạo lý tình cảm đó; hoặc giải thích (đối với đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ): Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát. Nếu đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì GV hướng dẫn học sinh giải thích gọn rõ, đi từ khái niệm, các từ khóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng để rút ra vấn đề cần nghị luận. Ví dụ 1: Giải thích khái niệm "cho và nhận": "Cho" và "nhận" là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết, nhân quả trong cuộc đời của con người. "Cho" có nghĩa là đem những gì đẹp nhất thuộc về mình từ tinh thần, vật chất, tuổi trẻ, tâm huyết... mang đến trao người khác, cho cuộc đời mà không một chút vụ lợi, không tính toán thiệt hơn, không mong có ngày được đền đáp... Còn "nhận" là 8
- được đón nhận những điều tốt đẹp người khác mang đến cho mình nhưng không đánh mất lòng tự trọng. Tuy nhiên mối quan hệ ấy phải là "Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình". Những ai biết "cho" và "nhận" như thế là những con người chân chính, cao quý, là người hạnh phúc, tìm được ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình... Ví dụ 2: Giải thích câu danh ngôn:“Dù hoàng đế hay là dân cày, người nào tìm thấy sự bình yên dưới mái ấm gia đình thì đó là người sung sướng nhất.” (Goethe) Câu danh ngôn so sánh hoàng đế với dân cày, hai đối tượng hoàn toàn trái ngược nhau về địa vị xã hội, sự giàu có, sang trọng. Thế nhưng dù là một vị hoàng đế đứng trên đỉnh cao chói lọi của quyền uy hay là một người nông dân quê mùa chân chất, nghèo khổ nếu ai tìm thấy sự bình yên dưới mái ấm gia đình thì đó mới là người hạnh phúc, sung sướng nhất. Qua đó, ta thấy câu danh ngôn đề cao, tôn vinh tầm quan trọng, ý nghĩa đặc biệt của mái ấm gia đình đối với cuộc đời mỗi con người. Chính gia đình quan trọng hơn cả quyền lực, địa vị, tiền tài bổng lộc... Ví dụ 3: Giải thích khái niệm sự thử thách, lòng dũng cảm: Thử thách là những khó khăn, vất vả con người phải đối mặt trong cuộc đời của mình. Dũng cảm chính là sự tự tin, quyết tâm, nghị lực không sợ hãi, không chạy trốn mà ngược lại chiến thắng chính bản thân mình, sẵn sàng đối mặt, vượt qua những khó khăn thử thách để gặt hái thành công, đạt được nguyện vọng, ước mơ vươn tới những điều tốt đẹp. Ví dụ 4: Giải thích câu danh ngôn: "Kẻ khốn cùng nhất trên thế giới này không phải là người không một đồng xu dính túi, mà là kẻ không có nổi một ước mơ." (Khuyết danh) Ước mơ là những gì tốt đẹp mà con người luôn ấp ủ, luôn hy vọng tràn trề, mong muốn sẽ đạt được trong tương lai. Mỗi một con người, mỗi tuổi thơ đều có những ước mơ khác nhau, tuy vậy đều hướng đến, vươn tới những điều tốt đẹp. Câu danh ngôn đề cao ước mơ với triết lý: kẻ khốn cùng nhất thế giới không phải là người nghèo nhất mà chính là kẻ suốt đời không có nổi một ước mơ. Chính kẻ đó chuốc lấy bất hạnh, đau khổ cùng sự khinh bỉ, thương hại của mọi người. 2. Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề; liên hệ, mở rộng vấn đề: 2.1 Nêu biểu hiện cụ thể của tư tưởng đạo lý tình cảm đó: (minh họa bằng dẫn chứng) Ví dụ 1: Nêu biểu hiện của lòng vị tha: - Lòng vị tha là cách nhìn, cách cư xử đầy bao dung, nhân hậu, ấm áp tình yêu thương của con người đối với người khác... - Là chăm lo một cách vô tư đến người khác, vì người khác mà hy sinh lợi ích, hạnh phúc của cá nhân mình - Đặc biệt lòng vị tha là sự tha thứ, không oán hận, bỏ qua tất cả những lỗi lầm thậm chí tội ác mà người khác gây ra cho mình. Những ai biết tha thứ là "những con người dũng cảm" (Han-đa-rơ). Học cách sống vị tha không phải 9
- dễ. Để tha thứ cho kẻ thù của mình lại càng khó gấp bội. Khi ta tỏ ra bao dung trước tội lỗi của kẻ thù chính là ta đang tự chiến thắng bản thân mình: "Tha thứ là bông hoa thượng hạng của chiến thắng" (Arixtot). Người chưa từng biết tha thứ cho kẻ thù thì chưa từng nếm một trong những thú vui tuyệt trần của thế gian - Tuy nhiên, vị tha không có nghĩa là hy sinh một cách mù quáng, nhắm mắt bỏ qua tất cả mọi tội lỗi để cái ác, sự thấp hèn lại tiếp tục tái diễn. Đó gọi là sự ngu dốt. Hành động vị tha phải dựa trên sự dẫn dắt của lí trí khi chính những kẻ được tha thứ biết hối cải Ví dụ 2: Nêu biểu hiện cụ thể của lòng tự trọng (lấy dẫn chứng trong văn học, trong cuộc sống) - Lòng tự trọng là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người. Người có lòng tự trọng là người luôn ý thức sâu sắc việc giữ gìn phẩm giá, nhân cách của mình dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Là người có đạo đức, có lương tâm, có tư tưởng nhân nghĩa, không bao giờ làm điều gì xấu xa, tàn ác. Tự trọng là truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam với những lời răn dạy sâu sắc của cha ông: “Giấy rách phải giữ lấy lề”, "Đói cho sạch, rách cho thơm" vv... - Là sự vững vàng, bản lĩnh vượt qua những cám dỗ của vật chất, danh vọng, quyền lực, địa vị... không chịu cúi mình, quỳ gối một cách thấp hèn: “Những con người mặc bộ đồ tôi tớ những tâm hồn không bao giời tôi tớ”... Lòng tự trọng đi liền với sự trung thực, tự tin, dũng cảm... - Tuy nhiên, tự trọng không có nghĩa là sự cao ngạo, đề cao bản thân một cách mù quáng. Lòng tự trọng phải dựa trên sự dẫn dắt của lí trí và giá trị đạo đức truyền thống 2.2.Nêu tác dụng, ý nghĩa của tư tưởng đạo lý, tình cảm (minh họa bằng dẫn chứng) Ví dụ 1: Tác dụng to lớn, ý nghĩa sâu sắc của mái ấm gia đình đối với cuộc đời mỗi con người, với tuổi thơ: (lập luận, phân tích, lấy dẫn chứng trong cuộc sống, trong văn học để minh chứng) - Gia đình là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, nơi "chôn rau cắt rốn"; nơi ta chập chững với những bước đi lẫm chẫm đầu tiên trong sự chờ đón, hạnh phúc ngọt ngào của cha mẹ... Nơi ta được đắm mình trong lời ru ầu ơ, tòa lâu đài cổ tích kì diệu của bà, của mẹ; được che chở trong bờ vai vững chãi của cha... - Là nơi con người được ngụp lặn, vẫy vùng giữa dòng sông trĩu nặng tình yêu thương ruột thịt từ ông bà, cha mẹ, anh em, cô chú... Nơi ta được dạy dỗ, rèn luyện để khôn lớn trưởng thành; nơi đặt viên gạch đầu tiên xây ngôi nhà nhân cách cho con người. Gia đình chính là điểm tựa, có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến quan điểm, phong cách sống, đạo đức, trí tuệ... của mỗi con người, đặc biệt đối với trẻ thơ... - Là nơi lưu giữ, cất dấu bao kỉ niệm thân thương êm đềm của tuổi thơ; nơi ta tìm về tổ tiên, nguồn cội, quê hương; bồi đắp trong ta tình yêu thiết tha, sâu nặng. Là bến đỗ bình yên để con người thanh lọc tâm hồn, tìm niềm hạnh phúc sau bao thăng trầm giông bão của thời gian trên hành trình dài rộng của cuộc đời... Là nơi dang rộng vòng tay tha 10
- thứ cho những lỗi lầm của ta nếu có; tiếp thêm niềm tin, nghị lực để ta vượt qua muôn vàn thử thách bước tiếp trên đường đời... Nếu con người biết trân trọng, giữ gìn mái ấm gia đình sẽ góp phần tạo động lực tinh thần trên con đường phát triển của xã hội, bởi gia đình chính là tế bào của xã hội... Ví dụ 2: Tác dụng to lớn, ý nghĩa sâu sắc, giá trị của của sự thử thách, lòng dũng cảm đối với cuộc đời mỗi con người: (lập luận, phân tích, lấy dẫn chứng minh họa) - Cuộc đời con người không rải đầy hoa thơm, cỏ ngọt, mà có biết bao chông gai, bão giông chờ đón. Có vượt qua thử thách, phải đổ xuống bao giọt mồ hôi và nước mắt thậm chí cả máu thì con người mới được tôi luyện, cọ xát để trưởng thành. Thử thách giúp ta nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống: "Chỉ có lửa mới tôi luyện nên những thanh sắt cứng rắn" (Lin-con) vv... - Lòng dũng cảm giúp con người tự tin, lạc quan, có sức mạnh kỳ diệu để vượt qua mọi thử thách như con tằm phải đau đớn tự mình thoát vỏ kén để biến thành con bướm xinh đẹp bay lượn thỏa thích giữa thiên nhiên tươi đẹp rộng lớn; hạt mầm phải kiên cường, gồng mình để xuyên thủng bóng tối, lớp đất dày để vươn lên uống những giọt sương mai mát lành, đón nhận ánh mặt trời ấm áp... Lòng dũng cảm giúp con người gặt hái được những thành công rực rỡ...: "Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông. Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công.” (Hồ Chí Minh) Ví dụ 3: Ý nghĩa sâu sắc của ước mơ đối với cuộc đời mỗi con người, đối với tuổi thơ: (lập luận, phân tích, lấy dẫn chứng minh họa) - Ấp ủ và thực hiện đượcước mơ sẽ giúp con người có động lực, tự tin, lạc quan, tìm được mục đích, lý tưởng sống cao đẹp; luôn thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn, đáng sống hơn... Tuy nhiên ước mơ không có nghĩa là tham vọng nên sẽ giúp con người tránh xa mọi tội lỗi, sự thấp hèn... - Ước mơ giúp con người tạo sức mạnh kỳ diệu, có bản lĩnh, sự kiên trì, sáng tạo, nghị lực phi thường để vượt qua mọi chông gai thử thách của cuộc đời. Ước mơ như ngôi sao vạn màu lấp lánh đối với tuổi thơ. Ước mơ làm cho tuổi thơ trở nên hồn nhiên, trong sáng, lung linh hơn, êm đềm, thú vị hơn... Ví dụ 4: Tác dụng to lớn, ý nghĩa của lòng tự trọng (phân tích, lập luận, đưa ra dẫn chứng minh họa) 11
- - Lòng tự trọng giúp tâm hồn con người thanh thản, cảm thấy hạnh phúc khi mình sống một cách trong sạch, không làm những điều xấu xa tội lỗi đánh mất lương tâm... - Lòng tự trọng giúp những con người đã từng phạm sai lầm biết tỉnh ngộ ân hận, biết rút ra cho mình bài học xương máu trong cuộc sống để tránh xa lỗi lầm, tội lỗi từ đó tìm cách vươn mình đứng dậy sau khi ngã nhằm sống tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn... - Lòng tự trọng trở thành cầu nối đưa con người đến gần con người tạo hiệu quả cao trong công việc; tạo cho các mối quan hệ trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng... trở nên trong sáng, lành mạnh. Càng có nhiều người có lòng tự trọng thì xã hội càng tốt đẹp, đất nước mới phát triển ổn định và bền vững tránh xa các tệ nạn xã hội, tội lỗi; danh dự "nòi giống tiên rồng" càng được bè bạn quốc tế yêu mến, khâm phục.... 2.3 Phản bác, lật ngược vấn đề cần nghị luận: (Đặt và trả lời câu hỏi : Nếu không có tư tưởng đạo lý tình cảm đó thì con người, xã hội sẽ ra sao ?) Ví dụ 1: Nếu không có mái ấm gia đình, hoặc không trân trọng nó; hoặc gia đình thiếu mẫu mực, xấu xa thì con người, xã hội sẽ ra sao? - Con người sẽ trở nên bơ vơ, đói khát, rách rưới, côi cút, không biết bấu víu vào đâu... - Con người sẽ trở nên vô tâm, thấp hèn, ích kỉ... mất niềm tin, mất phương hướng, tâm hồn chai sạn, khô cằn dễ bị cám dỗ rơi vào lối sống bê tha, thậm chí gây ra tội lỗi đáng tiếc... - Xã hội sẽ chậm phát triển, nảy sinh tệ nạn... Ví dụ 2: Nếu không có sự thử thách, lòng dũng cảm thì con người, xã hội sẽ ra sao? - Trên hành trình đi tìm hạnh phúc, nếu điều gì con người đạt được quá dễ dàng thì sẽ không bền vững, không có giá trị, thậm chí đôi lúc còn phải trả giá như hạt mầm trên mặt đất bị quật ngã khi có giông tố, con tằm được cắt kén không thể biến thành con bướm... - Nếu không có lòng dũng cảm để vượt qua thử thách, con người sẽ bị gục ngã trong thất bại thảm hại. Phải bó tay đầu hàng số phận, phải chấp nhập bao thiếu thốn, khổ đau, bất hạnh; bị bủa vây trong sự bế tắc, tuyệt vọng ... - Không có lòng dũng cảm của con người, xã hội sẽ kém phát triển chỉ còn là một bức tranh xám xịt của sự tự ti, tăm tối, ngang trái... Ví dụ 3: Phản bác, lật ngược vấn đề cần nghị luận: Nếu không có ước mơ thì con người, xã hội sẽ ra sao? - Trên hành trình đi tìm hạnh phúc, nếu không có ước mơ, con người sẽ lạc lối, mất phương hướng chỉ biết an phận bằng lòng với thực tại, thậm chí bó tay đầu hàng số phận; tâm hồn trở nên hoang cằn; cuộc sống trở nên tối tăm, ngột ngạt... 12
- - Tuổi thơ không có ước mơ thì không còn tuổi thơ, đánh mất sự hồn nhiên với bao hoài bão cao đẹp; tuổi học đường thiếu ước mơ thì sẽ trở nên vô vị, già cỗi... - Không có ước mơ của con người, xã hội sẽ tụt hậu, chỉ còn là một bức tranh xám xịt của sự tự ti, tăm tối... Ví dụ 4: Phản bác, lật ngược vấn đề cần nghị luận: Nếu không có lòng tự trọng, con người và xã hội ra sao? - Nếu không có lòng tự trọng, con người sẽ đánh mất chính mình, sống trong nhục nhã thậm chí sa vào tội lỗi... - Con người sẽ luôn chìm trong bóng tối của sự xấu xa, đê hèn, không chiến thắng được chính bản thân mình... - Không có lòng tự trọng, xã hội, nhân loại sẽ đầy rẫy những điều xấu xa, tội ác vv... 3.Bài học nhận thức, hành động: (có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài) (+) Kết bài: khái quát vấn đề cần nghị luận, liên hệ với bản thân (một cách tự nhiên, giản dị, không hô hào) Ví dụ 1: - Câu danh ngôn về gia đình hoàn toàn đúng, sâu sắc. - Khái quát, nâng cao: Gia đình chính là hình ảnh thiêng liêng nhất nhất gắn bó máu thịt đối với cuộc đời con người. Gia đình tiếp thêm niềm tin, sức mạnh kì diệu để con người biết sống đẹp, sống có ích.. - Liên hệ bản thân: luôn biết nâng niu, trân trọng, vun đắp mái ấm gia đình của mình., biết sống đẹp, sống có ý nghĩa.. Ví dụ 2: - Khái quát, nâng cao: ước mơ chính là nét đẹp không thể thiếu của mỗi con người; nó tiếp thêm niềm tin, sức mạnh kì diệu để ta vươn tới hạnh phúc; biết sống đẹp, sống có ý nghĩa... - Liên hệ bản thân: câu danh ngôn là lời khuyên sâu sắc, dội về trong tâm hồn bao suy ngẫm, đánh thức những ước mơ hoài bão cao đẹp để vươn tới hạnh phúc, để biết sống đẹp, sống có ích ... đồng thời tự tin để chắp cánh ước mơ thành hiện thực. Ví dụ 3: Đánh giá, nêu suy nghĩ của bản thân về lòng tự trọng: - Bản thân phải luôn đề cao lòng tự trọng, học cách tự trọng để ngày càng hoàn thiện mình hơn, để thấy cuộc đời đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Đặc biệt ở lứa tuổi học trò phải luôn biết tự trọng trước người thân, bạn bè, thầy cô vv... *Đối với dạng đề bàn về một hiện tượng xã hội: dàn ý có thể xây dựng như sau: 1.Nêu khái quát về hiện tượng xã hội đó; hoặc giải thích (đối với đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ): 13
- Nếu đề đã rõ nội dung cần nghị luận thì nêu khái quát. Nếu đề ra dưới dạng hàm ngôn, ẩn dụ, chưa rõ nội dung thì GV hướng dẫn học sinh giải thích gọn rõ, đi từ khái niệm, các từ khóa quan trọng đến giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng để rút ra vấn đề cần nghị luận. Ví dụ 1: Nêu khái quát về thói vô cảm đặc biệt đối với giới trẻ hiện nay trong xã hội hiện nay: "Bệnh vô cảm" là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, không xúc động, sống ích kỷ, lạnh lùng. Họ thờ ơ, làm ngơ, dửng dưng trước những gì xảy ra xung quanh mình, trước những điều xấu xa, hoặc nỗi bất hạnh, không may của những người khác, thậm chí dửng dưng, vô trách nhiệm với cả chính bản thân mình.Đây là một căn bệnh đang có chiều hướng lan rộng trong xã hội ta, nó len lỏi khắp mọi nơi; không chỉ diễn ra ngoài xã hội mà còn xâm nhập vào trong các gia đình. Trong đó, điều đáng lo ngại là một bộ phận không nhỏ của giới trẻ đang mắc phải căn bệnh nguy hại này. Có thể xem đây là căn bệnh: “ung thư tâm hồn” cần phải chữa trị khẩn cấp. Ví dụ 2: Nêu khái quát về tình trạng bạo lực học đường trong học sinh hiện nay: Bạo lực học đường là những mâu thuẫn căng thẳng, gay gắt dẫn tới việc xô xát, đụng độ, va chạm mạnh mẽ, làm tổn thương về thân thể, nhân phẩm giữa học sinh với nhau xảy ra trong phạm vi trường học, hoặc có thể ngoài phạm vi trường học, ngoài sự kiểm soát của thầy cô giáo. Bạo lực học đường từ lâu đã là một vấn đề nhức nhối của ngành giáo dục. Đây chính là mối quan tâm, lo ngại của rất nhiều gia đình, của các nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra. Ví dụ 3: Nêu khái quát về hiện tượng sử dụng mạng Interrnet hiện nay Thế kỷ 21 có thể xem là thời đại với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin toàn cầu. Trong đó Internet đã làm thay đổi đời sống xã hội một cách chóng mặt, vũ bão. Internet mang lại những lợi ích to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, quân sự, an ninh quốc phòng, văn hóa, tinh thần Nó trở thành người bạn đồng hành của con người, đặc biệt giới trẻ. Tuy nhiên nếu con người không biết khai thác đúng cách hoặc quá lạm dụng nó thì sẽ dẫn đến hậu quả đáng tiếc vì nó chính là “con dao hai lưỡi” với nhiều mặt trái. Đặc biệt việc sử dụng Internet đối với học sinh hiện nay đang là vấn đề được quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. 2. Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề; liên hệ, mở rộng vấn đề: 2.1 Nêu biểu hiện cụ thể của hiện tượng xã hội đó: (minh họa bằng dẫn chứng) Ví dụ: Biểu hiện cụ thể của thói vô cảm: - Thờ ơ trước những cảnh ngộ kém may mắn, những mảnh đời bất hạnh xung quanh mà không hề tỏ ra mảy may xúc động, không ra tay giúp đỡ với thái độ vô can 14
- - Không quan tâm tới những vấn đề của xã hội từ những sự kiện lớn lao trọng đại đến những vấn đề rất đỗi bình dị nhưng đầy ý nghĩa ... xem như đó không phải là chuyện của mình. - Thờ ơ trước những vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống, của con người đáng được nâng niu, trân trọng... - Thơ ơ trước những bất công, ngang trái để cái xấu, cái ác hành hoành: khi chứng kiến không hề lên tiếng mà ngoảnh mặt làm ngơ, sợ liên lụy... VD: trông thấy bạn bè đồng trang lứa bị bạo hành ngay trước cổng trường nhưng đứng xem rồi quay clip tung lên mạng xem như đó là trò mua vui, giải trí. - Thờ ơ với chính cuộc sống, tương lai của mình, “nước chảy bèo trôi”, đến đâu hay đến đó. 2.2. Nêu qua nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xã hội đó: (minh họa bằng dẫn chứng) Ví dụ 1: Nguyên nhân của thói vô cảm: - Do mầm mống của lối sống vị kỉ luôn ngự trị trong mỗi con người, chỉ biết nghĩ đến bản thân mình. - Cơ chế kinh tế thị trường, nhịp sống, guồng quay hối hả, chóng mặt của xã hội thời hiện đại cuốn mọi người vào đó đặc biệt giới trẻ quên đi tất cả mọi điều xung quanh. - Một bộ phận thế hệ trẻ được gia đình, bố mẹ chiều chuộng, thậm chí là lập trình sẵn cho cuộc đời, cho tương lai, cho từng đường đi nước bước. Họ quen lối sống ích kỷ, hưởng thụ 2.3.Tác hại, hậu quả của hiện tượng xã hội đó (đối với hiện tượng tiêu cực); ý nghĩa, tác dụng (đối với hiện tượng tích cực”: Ví dụ 1: Tác hại của bệnh vô cảm: - Bệnh vô cảm làm cho con người trở nên trơ lì, tàn nhẫn, thậm chí đối xử độc ác, tàn bạo với nhau. Những cảnh ngộ bất hạnh không được cưu mang giúp đỡ - Làm cho giới trẻ mất phương hướng, không tìm được cho mình lý tưởng sống cao đẹp. Căn bệnh này manh nha cho những sai lầm trong cuộc đời khi họ dễ dàng sa ngã, vấp váp, thậm chí phạm lỗi lầm. - Những chuẩn mực đạo đức quý giá truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam đã dần bị phai nhạt, lu mờ, thể hiện một sự suy đồi về mặt đạo đức và sự sai lệch về mặt hành vi một cách đáng báo động, có nguy cơ suy vong. Làm băng hoại giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc ta. Một dân tộc luôn đề cao tình yêu thương, tinh thần tương thân tương ái - Góp một phần không nhỏ làm mất trật tự xã hội, sự “ô nhiễm môi trường xã hội” sẽ ngày càng lan rộng và ảnh hưởng đến sự phát triển, đời sống, văn hóa xã hội của cả một quốc gia. - Làm cho mọi người mất niềm tin về những điều tốt đẹp của cuộc đời 15
- Ví dụ 2: Tác dụng to lớn, ý nghĩa quan trọng của Internet đối với cuộc sống con người, với học sinh (phân tích, lập luận, đưa ra dẫn chứng minh họa) - Có thể khẳng định “Internet mang cả thế giới đến ngôi nhà của bạn” khi bồi đắp kho tàng kiến thức vô tận, khổng lồ cho con người, mở ra trong ta cả một thế giới kỳ diệu về cuộc sống muôn màu từ cổ đến kim, không phân biệt đường viền biên giới quốc gia, lãnh thổ. Chỉ cần gõ Google là hầu như bất kỳ thông tin trong tất cả các lĩnh vực trong nước và quốc tế sẽ được đáp ứng dù ít hay nhiều. Nhờ khai thác, truy cập Internet mà học sinh có cơ hội tra cứu thông tin, khám phá được nhiều điều mới mẻ, bổ ích trên tất cả mọi lĩnh vực về thế giới muôn màu xung quanh ta để phục vụ thiết thực trong học tập cũng như đời sống - Chính Internet đã giúp con người tiết kiệm được thời gian công sức, tiền bạc, của cải ứng dụng vào hầu hết tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Internet chính là đòn bẩy phát huy sức mạnh cộng đồng, trong đó có sức mạnh của giới trẻ, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế tri thức. Học sinh có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí học tập khi học trực tuyến, học từ xa - Qua các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo Internet đã trở thành nhịp cầu nối yêu thương trao đổi tâm tình sẻ chia, giao lưu tình cảm với bạn bè bốn phương. Kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp của học sinh được mở mang, trau dồi. Học sinh có quyền bình đẳng, có cơ hội được trao đổi, thảo luận, bày tỏ chính chiến của bản thân và học hỏi nhiều điều bổ ích khi tham gia các diễn đàn. Chia sẻ buồn vui trên Blog đang là “cơn sốt” cuốn hút giới trẻ qua nhật ký online. Không những vậy, học sinh còn có thể vào mạng để gặp gỡ những người nổi tiếng mình hâm mộ - Internet còn là diễn đàn để giải trí, xoa dịu sự căng thẳng mệt mỏi sau những giờ học tập căng thẳng với nhiều hình thức giải trí nghe nhạc, xem phim, hài kịch, nhiều trò chơi thông minh, lý thú mà học sinh vô cùng yêu thích Ví dụ 3: Tác hại của Intrenet đối với học sinh khi khai tác không đúng cách hoặc quá lạm dụng nó - Hiện nay Internet đang để một cách trôi nổi với nhiều trang web “bẩn” độc hại như tuyên truyền phản động, sex, bạo lực Vì thế nếu học sinh vì sự tò mò, không làm chủ được bản thân, không có đủ bản lĩnh để tránh xa thì sẽ có nguy cơ rất cao bị cuốn vào các trang web thiếu lành mạnh đó, dễ dàng tiêm nhiễm những thói hư tật xấu của con người, dẫn đến bỏ bê việc học hành, dễ sa ngã, thậm chí có thể gây nên tội ác. Có khi tình bạn tuổi học trò trong sáng, hồn nhiên, ngây thơ bị bóp méo, biến dạng. Đặc biệt nhiều vụ án đau lòng của trẻ vị thành niên vì nghiện Game đã dẫn đến giết người để lại sự bàng hoàng đau xót cho gia đình, nhà trường và xã hội - Khi học sinh truy cập mạng quá nhiều sẽ có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe: mắt, thần kinh căng thẳng mệt mỏi, rã rời, thậm chí có trường hợp phải kiệt sức đưa đi cấp cứu, bị tử vong 3. Bài học nhận thức, hành động: (có thể lồng vào trong quá trình viết ở thân bài, cũng có thể đưa vào phần kết bài) 16
- * Nếu là hiện tượng tích cực: - Bản thân đồng tình ủng hộ hiện tượng tích cực trên, tuyên truyền cho bạn bè, người thân học tập. - Luôn học hỏi để rèn luyện bản thân từ đó biết sống đẹp sống có ích, biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất. * Nếu là hiện tượng tiêu cực: - Kịch liệt phản đối hiện tượng tiêu cực trên, tuyên truyền cho bạn bè người thân tránh xa, quay lưng, tẩy chay với nó. - Góp phần đấu tranh, ngăn chặn sự ảnh hưởng nguy hại của hiện tượng tiêu cực đó, biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất. Ví dụ 1: - Bản thân luôn kịch liệt phản đối thói vô cảm. Xem đây là một hành vi không thể chấp nhận được. Quay lưng, tẩy chay, lên án căn bệnh này. - Luôn biết yêu thương, vị tha, quan tâm giúp đỡ mọi người xung quanh bằng tình cảm chân thành, trong sáng, không vụ lợi, không ích kỉ - Tuyên truyền, động viên bạn bè, mọi người tránh xa, chữa lành căn bệnh vô cảm ; biết bắt đầu từ những việc làm giản dị nhất, có ý nghĩa nhất vv Ví dụ 2: Đánh giá, nêu suy nghĩ của bản thân về việc truy cập, sử dung Internet: - Bản thân phải luôn đề cao tầm quan trọng, ý nghĩa đặc biệt của Internet đối với con người, với học sinh ... - Biết tìm những trang web bổ ích, lành mạnh, có giá trị đích thực để khai thác thông tin một cách hiệu quả. - Tẩy chay, quay lưng, tránh xa với những trang web “bẩn” thiếu lành mạnh, vô bổ, thiếu tính giáo dục... - Tuyên truyền linh hoạt dưới nhiều hình thức giúp mọi người, bạn bè sử dụng khai thác các trang mạng một cách bổ ích (+) Kết bài: - Khái quát lại hiện tượng xã hội; - Nâng cao: Sống đẹp, sống có ích luôn là khát khao vươn tới hạnh phúc Ví dụ: - Khẳng định lại tầm quan trọng, vai trò to lớn của Internet đối với con người, đặc biệt với tuổi học trò. - Thấm thía tâm đắc về việc sử dụng Internet làm giàu tri thức cho bản thân, rèn luyện nhân cách để tự tin sốn đẹp, sống có ý nghĩa bước vào hành trình dài rộng của cuộc đời 17
- Một vài lưu ý: - Giáo viên khi hướng dẫn học sinh lấy dẫn chứng minh họa trong văn học và cuộc sống đời thường, yêu cầu dẫn chứng phải phù hợp, đưa ra những mẩu chuyện nhỏ chứ không sa đà kể lại câu chuyện làm loãng vấn đề nghị luận, sa vào văn tự sự. Dẫn chứng để chứng minh cần tiêu biểu và có tính phổ biến, nhưng cũng cần sát thực và gần gũi với cuộc sống. - Bài văn phải có bố cục hài hòa. Phần thân bài có thể chia ra nhiều đoạn tương ứng với mỗi ý lớn; giữa các đoạn phải có các từ ngữ chuyển tiếp để tạo sự chặt chẽ, lô gich như: không chỉ có vậy, ngoài ra, bên cạnh đó, như vậy, có thể khẳng định... phải sử dụng các biện pháp tu từ: so sánh, điệp ngữ, ẩn dụ, nhân hóa... ngôn ngữ trong sáng, mạch lạc... để tạo sức thuyết phục. - Học sinh liên hệ bản thân phải hết sức tự nhiên, nhuần nhuyễn, cảm xúc chân thực, có thể lồng vào trong quá trình viết; tránh hô hào khẩu hiệu một cách sáo rỗng... - Trong đánh giá cần hướng dẫn học sinh đặt vấn đề ở nhiều phương diện, nhiều hoàn cảnh, nhiều đối tượng để tìm được đa dạng các ý... Lưu ý: Một số đề ra có sự giao thoa giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lý, tình cảm với hiện tượng xã hội; giáo viên hướng dẫn học sinh cần linh hoạt dàn ý định hướng trên. Tham khảo một số hướng dẫn chấm HDC câu 2 trong Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 NH 2019-2020 của Sở GD&ĐT Hà Tĩnh. Nội dung Điểm Suy nghĩ của em về bài học ứng xử trong cuộc sống được gợi lên từ câu tục ngữ “Một sự nhịn, 3.0 chín sự lành”. a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận; đúng kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, 0.25 đạo lý. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bàn về bài học ứng xử trong cuộc sống được gợi lên từ câu tục 0.25 ngữ “Một sự nhịn, chín sự lành” – bài học về sự nhẫn nhịn. c. Triển khai bài viết mạch lạc, tự nhiên, hợp lý, kết hợp lý lẽ và dẫn chứng. 2.0 Có nhiều cách triển khai vấn đề. Đây là một hướng tham khảo để đánh giá:: - Giới thiệu vấn đề: bài học ứng xử từ câu “Một sự nhịn, chín sự lành”. 0.25 18
- - Giải thích: 0.25 +“Nhịn” là nhẫn nhịn, nhường nhịn. “Lành” là bình yên, hài hòa, là điều tốt đẹp. Hai vế câu tục ngữ có quan hệ nhân - quả. Có thể hiểu: “nhịn” để có được “lành”, muốn “lành” thì cần biết “nhịn”. + Các số từ (một, chín) nhấn mạnh lợi ích to lớn của sự nhẫn nhịn. Câu tục ngữ khuyên nhủ mọi người cần biết nhẫn nhịn, nhường nhịn, cư xử đúng mực trong giao tiếp bởi vì chỉ “một sự nhịn” có thể đem lại đến “chín sự lành”, một chút nhẫn nhịn sẽ giữ được, có được rất nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống. Đây là bài học ứng xử rất sâu sắc. - Bàn bạc, làm sáng tỏ vấn đề: 0,5 + Ứng xử đúng mực, biết nhẫn nhịn sẽ khiến mỗi cá nhân và cả xã hội có được nhiều điều tốt đẹp. Khi có hiểu lầm, người biết “nhịn” sẽ kiềm chế được cảm xúc, điều chỉnh suy nghĩ, làm chủ hành vi để hóa giải, xoa dịu và giải quyết các mâu thuẫn một cách êm đẹp khiến các bên hiểu nhau, tôn trọng, thông cảm chia sẻ, tin cậy và gắn bó hơn. Với mâu thuẫn gay gắt, biết kiềm chế để dịu bớt căng thẳng, lựa thời điểm hợp lý để hóa giải, mọi chuyện sẽ trở lại bình thường. Cách ứng xử ấy sẽ hạn chế bạo lực, ngăn ngừa cái xấu, góp phần làm cho xã hội ngày càng lành mạnh. + Ngược lại, nếu bức xúc, nổi nóng, tinh thần lấn át lý trí sẽ dẫn đến lời nói, hành vi sai trái, gây ra những hậu quả đáng tiếc. Tuổi học trò dễ nảy sinh những mâu thuẫn, hiểu lầm dẫn đến xung đột làm rạn nứt tình cảm, tác động xấu đến tinh thần và thể chất của nhau. Hiện tượng bạo lực học đường (xúc phạm, đánh nhau gây hậu quả nghiêm trọng) thời gian qua nói lên điều đó. Thiếu kiềm chế, nông nổi, không biết “nhịn” đúng lúc thường không có cơ hội hối hận, sửa chữa sai lầm. Lời khuyên “Một sự nhịn, chín sự lành” càng trở nên cần thiết để ta tránh những điều như vậy! - Liên hệ, mở rộng vấn đề: 0.25 + Đề cao giá trị của nhẫn nhịn trong ứng xử, cha ông ta có những lời khuyên tương tự: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “Sa chân với lại, sa miệng với không lại”, Phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt” trong học sinh cũng nhằm rèn cho chúng ta đức tính nhẫn nhịn nói trên. + Tuy nhiên, không phải lúc nào “sự nhịn” cũng sẽ đem lại “sự lành”. Có lẽ cũng bởi vậy mà cha ông ta dùng số từ “chín” (với hàm ý: nhiều, hầu hết) chứ không phải “mười”(với hàm ý: tất cả, trọn vẹn). Nhân vật chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”(Ngô Tất Tố) đã “nhịn” và biết phản 19
- kháng đúng lúc. Trong lịch sử, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta năm 1946, Bác Hồ đã ra chỉ rõ “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới,( ). Chúng ta phải đứng lên! ”. Khi cần, phải đấu tranh để bảo vệ danh dự, lẽ phải, quyền lợi chính đáng. - Bài học nhận thức và hành động: 0.5 + Rèn tính nhẫn nhịn, biết lắng nghe, chia sẻ, làm chủ cảm xúc để luôn ứng xử theo hướng tích cực; suy nghĩ chín chắn trước khi hành động. + Phê phán, loại bỏ tính nông nổi, dễ nổi nóng, hành động theo cảm tính nhất thời, thích “chuyện bé xé ra to”, + Biết vận dụng bài học ứng xử ấy một cách linh hoạt; đấu tranh khẳng định giá trị, đòi lẽ phải, công bằng cho bản thân và cộng đồng; góp phần cùng mọi người tạo nên xã hội lành mạnh, tôn trọng, quan tâm chia sẻ. Khẳng định vấn đề nghị luận. 0.25 d. Sáng tạo: khuyến khích những bài viết có cách diễn đạt độc đáo, có sự khám phá trong triển khai 0.25 giải quyết vấn đề. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. 0.25 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH HƯỚNG DẪN CHẤM TUYỂN SINH VÀO LỚP 1THPT NĂM HỌC 2018 - 2019 MÔN: NGỮ VĂN (Hướng dẫn chấm gồm có 04 trang) I. Hướng dẫn chung 20

